ĐẶNG PHÙNG QUÂN

Khái luận phê b́nh lư trí văn chương

biên khảo triết học nhiều kỳ

33

Chương II

MỸ HỌC VÀ VĂN CHƯƠNG

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11,  Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14,  Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26,  Kỳ 27,  Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32,  Kỳ 33, 


Mỹ học và văn chương là hai khoa học phân biệt song có một điểm chung đó là thuộc về cảm tính/αίσθησις. Alexander Gottlieb Baumgarten (1714-1762) đă lấy lại từ tiếng hy lạp để viết bộ Aesthetica khởi đầu nền móng cho một khoa học độc lập [1].

Trong sơ thảo , tôi đă hoạch định đối chiếu Mỹ học và Văn chương ở chương này và Mỹ học văn chương ở chương IX, xác định khu biệt giữa mỹ học và mỹ học văn chương, khi đi t́m cơ sở phê phán lư trí văn chương.

Mỹ học: xác định tác phẩm nghệ thuật?

Khi nói đến tác phẩm nghệ thuật/Kunstwerk/Œuvre de l’art/Work of Art là bao dung luôn những tác phẩm ở mọi lănh vực khác nhau, từ văn chương đến các bộ môn hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc (tuy nhiên, ở thời cổ đại, người Hy lạp phân biệt những bộ môn thuộc về nghệ thuật như thơ, nhạc, vũ khác với những công tŕnh thuộc kiến trúc, điêu khác và hội họa).

Câu hỏi đầu tiên có thể là: thế nào là nghệ thuật? tác phẩm nghệ thuật là ǵ? tại sao lại phải xác định rơ rệt tác phẩm nghệ thuật thuộc về văn chương/literarische Kunstwerk?

Nói đến tác phẩm nghệ thuật văn chương, liệu có hàm ngụ sự khu biệt giữa Mỹ học và Sáng tạo học [2], nghĩa là phân biệt giữa khoa mỹ học nói chung và mỹ học văn chương , thảo luận ở đây.

Khu biệt này chỉ ra một đằng là lư luận về nghệ thuật nói chung và một đằng là lư luận văn chương nói riêng.

Để xác định nghệ thuật, định nghĩa đầu tiên kế thừa truyền thống cổ đại ít nhiều vẫn được xem như phổ biến là lư luận mô phỏng. Cái nh́n này dường như chỉ bị lung lạc từ lúc lư luận biểu thị xuất hiện vào thế kỷ 19. Những điều kiện để xác định nghệ thuật bị từ bỏ kéo theo những định nghĩa nghệ thuật trở nên tầm thường và giả tạo.

 

-----------------------

[1] A. G. Baumgarten, Aesthetica, 2 Bde. 1750-58. Từ ngữ mỹ học nhằm để chỉ “khoa học về nhận thức cảm xúc” được ghi nhận kể từ Baumgarten. Ông quan niệm cơ sở của thơ và những bộ môn mỹ thuật là những biểu tượng cảm xúc/sensitivae, chẳng hạn một bài thơ đẹp là một diễn ngôn cảm xúc hoàn hảo, làm sống dậy một sức truyền cảm sinh động, cho nên đẹp  có thể mơ hồ, không rơ ràng như biểu tượng trí thức. Người làm nghệ thuật không chỉ mô phỏng tự nhiên, nhưng đưa cảm xúc vào thực tại nên trong quá tŕnh mô phỏng tự nhiên sáng tạo ra một thế giới, một tổng thể mục tiêu của biểu tượng.
Đồng ư hay không với lư luận của Baumgarten,  Aesthetica đă trở thành một bộ môn khoa học phổ biến trong lĩnh vực nhân trí. Những công tŕnh đương đại sau Baumgarten như Edmund Burke, A Philosophical Enquiry into Our Ideas of the Sublime and the Beautiful 1757, David Hume, Of the Standard of Taste 1757,  Alexander Gerard, An Essay on Taste 1759 ở Anh, Denis Diderot, Recherches philosophiques sur l’origine et la nature du Beau 1751 ở Pháp, Gotthold Ephraim Lessing, Laokoon, oder Über die Grenzen der Malerei und Poesie 1766, Immanuel Kant , Beobachtungen über das gefühl des Schönen und Erhabenen 1764 ở Đức, tuy quan điểm khác nhau, song đều thừa nhận hiện tượng mỹ học liên hệ đến giá trị của cá́ đẹp, quan năng tinh thần đáp ứng vẻ đẹp của đối tượng nghệ thuật.  Lịch sử mỹ học  thật ra phải kể ngay từ thời cổ đại, như triết gia Ba-lan Władysław Tatarkiewicz (1886-1980) chỉ ra nhiệm vụ của sử gia mỹ học “không những chỉ nghiên cứu tiến hóa của những loại mỹ học khác nhau, nhưng phải tự nghiệm những phương pháp và quan điểm khác nhau. Khi nghiên cứu những ư niệm cổ hơn về mỹ học không phải chỉ xét đến những ư niệm đă diễn đạt dưới cái tên mỹ học , hay thuộc về bộ môn mỹ học nhất định hoặc áp dụng những từ ngữ “đẹp” và ‘nghệ thuật” là đủ. Cũng không phải chỉ dựa vào những mệnh đề đă viết ra hoặc in ra rơ ràng là đủ . Sử gia mỹ học c̣n phải rút ra phong cách quan sát được từ một thời đại nhất định và đối chiếu với những công tŕnh nghệ thuật sản xuất ra ở thời đại đó. Ông không chỉ dựa vào lư luận, mà c̣n vào thực tiễn, vào những công tŕnh điêu khắc và âm nhạc, thơ và thuật hùng biện.” [trong Państwowe Wydawnictwo Naukowe/Cơ sở xuất bản khoa học Ba lan 1970, dẫn trong Mỹ học Ba lan thế kỷ XX 1973].
Chỉ xét ở phương Tây, Platon đă đề xuất những vấn đề cơ bản mỹ học rải rác trong nhiều thiên đối thoại trước và sau thời kỳ mở trường Academos, và đă chỉ ra những hệ quả mỹ học trong tư tưởng những triết gia tiền Socrate nơi Demokritos hay Parmenides. Những ư niệm techne để phân biệt đắc thủ và sản xuất, mimesis để nói đến sự vật được sáng tạo mô phỏng từ h́nh thái nguyên mẫu, to kalon để nói con đường dẫn đến dẹp qua những phẩm chất của tŕnh độ/metrontương hợp/symmetron. Lư luận mỹ học ở thời Aristote tiêu biểu trong tác phẩm Thi pháp/Poietike (cho nên có quan niệm cho là trước Baumgarten với tân ngữ Aesthetica, lĩnh vực thuộc về mỹ học là Poietike), trong ba quan năng tri/theoria, hành/praxis và tác/poiesis , một loại tạo tác là mô phỏng, biểu tượng của sự vật và sự biến.
Sang đến thời cận hiện đại, khi mỹ học đă h́nh thành như một bộ môn khoa học th́ những khái niệm mỹ học xác định rơ rang hơn. Baumgarten quan niệm “cứu cánh của mỹ học là hoàn thiện tri thức khả xúc, nghĩa là cái đẹp”. cho nên khác với quan niệm thời cổ đại, xác định cái đẹp qua trạng thái cân xứng hay điều ḥa thích hợp trong sự vật đối tượng, mà trái lại dựa vào sự thể hiện cảm xúc, cường độ cảm xúc nơi chủ thể. Khoa mỹ học phát triển đa dạng kể từ thời đại mới này, trong triết học từ Descartes, trong mỹ học từ Baumgarten (vẫn được xem là người theo Descartes) khởi từ phân biệt những ư niệm trong sáng và tối, hay rơ ràng và mơ hồ. Những dữ kiện thuộc về cảm giác quả thật trong sáng song mơ hồ, chẳng hạn như thơ là diễn ngôn thuộc cảm tính, với những ư niệm trong sang lẫn mơ hồ; nếu so sánh giữa chứng minh của nhà toán học trong sáng và rơ ràng, song không có sức lôi cuốn như thơ, trong khi ngôn từ của nhà thơ thật mơ hồ, với những hư cấu của tri tưởng, những từ hoa của ẩn dụ; cho nên mỹ học có lănh vực riêng của nó, có thể nói chân trời mỹ học hoàn toàn tách rời chân trời luận lư.
Vai tṛ của tri tưởng là chủ yếu trong sang tạo nghệ thuật, nhưng phân cách giữa khuynh hướng duy lư và duy nghiệm về mặt tri thức. Những phạm trù mỹ học khác như phong cách thị hiếu, phê phán, cũng như tri tưởng chỉ ra chân trời của tính chủ thế trong thế giới mỹ học, mở ra, như chính Baumgarten nhận xét: thế giới của nhà thơ quả thật bao gồm những quần đảo và bán đảo, v́ người thi sĩ làm ra những thế giới, ở đó cái khả ảo trở thành khả xúc và cái bất kiến trở nên khả thị.
Cũng như các bộ môn khoa học khác, mỹ học có một lịch sử vàđă có nhiều công tŕnh hoàn thành những bộ lịch sử, như công tŕnh của Bernard Bosanquet, A History of Aesthetic 1932, của W. Tatarkiewicz, Historia estetyki 1962-1967.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            

[2] Esthétique và Poétique. Từ ngữ Poétique/Poetik/Poetics đôi khi được dịch là thi pháp, hay sáng tạo học tùy vào ngữ cảnh để làm rơ điều muốn nói đến, trong khi chưa có một cách dùng thống nhất.
Lấy tác phẩm Grundbegriffe der Poetik của Emil Staiger (học giả người Thụy sĩ, 1908-1987) làm tiêu biểu, trong Dẫn luận, Staiger viết: Dưới nhan đề nhưng khái niệm cơ bản của Sáng tạo học/Thi pháp” ở đây để chỉ những khái niệm của sử thi, trữ t́nh, hư kịch và có thể cả bi kịch và hài kịch – trong một nghĩa khác  với thường dùng từ trước đến nay và do đó phải giải thích ngay từ khởi đầu.  Nhan đề Poetik quả thực từ lâu không c̣n mang nghĩa một giáo hỗ thực tiễn cho nguời chưa được huấn luyện có thể cải tiến để có thể làm thơ, hùng sử thi và hư kịch theo quy tắc, song những bài viết mới  dưới danh xưng Poetik vẫn giống những công tŕnh cổ  hơn ở chỗ  có thể thấy bản chất của thơ, sử thi và hư kịch được thực hiện toàn diện trong những kiểu mẫu đặc thù của thơ, sử thi và hư kịch. (Unter “Grundbegriffen der Poetik” warden hier die Begriffe episch, lyrisch, dramatisch und allenfalls tragisch und komisch verstanden – in einem Sinne jedoch, der sich von dem bisher üblichen unterscheidet und gleich zu Beginn erklärt warden muß. Der Titel Poetik bedeutet zwar längst nicht mehr eine praktische Lehre, die Ungeübte instand setzen soll, regelrechte Gedichte, Epen und Dramen zu schreiben. Aber die neueren Schriften, welche unter dem Namen Poetik gehen, gleichen den älteren immerhin darin, daß sie das Wesen des Lyrischen, Epischen und Dramatischen in bestimmten Mustern von Gedichten, Epen und Dramen vollkommen realisiert sehen).

 

        (c̣n na)

       Đặng Phùng Quân

http://www.gio-o.com/DangPhungQuan.html

© gio-o.com 2012